Thư của Đức Giám quản ngày 16 tháng 10 năm 2026 | Chiêm niệm

Trong thư mục vụ này, Đức ông Fernando Ocáriz mời gọi chúng ta suy ngẫm sâu sắc hơn về lời mời gọi sống chiêm niệm giữa thế gian, dưới ánh sáng cuộc đời Chúa Giêsu và gương Thánh Josemaría, để hướng đến kỷ niệm 100 năm Opus Dei.

Mục lục

Mở đầu

Cuộc trò chuyện liên lỉ của Chúa Giêsu với Chúa Cha

Chiêm niệm trong cuộc đời Thánh Josemaría

Giữa một thế giới hối hả

“Lạy Chúa, con tìm kiếm Thánh Nhan Chúa!”

Thấy Chúa trong mọi sự

Hướng mắt lên trời trong lúc giữ vững đôi chân trên mặt đất

Thời gian ngắn ngủi

Chiêm niệm là quà tặng của Chúa

Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch

Thấy Chúa nơi những người quanh ta

Như những người con yêu dấu

Khát khao các linh hồn


Các con thân mến, xin Chúa Giêsu thương gìn giữ các con!

1. Trong thông điệp hồi tháng 3, cha có gợi ý rằng từ tháng 10 năm nay đến tháng 10 năm sau, để chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh nhật Opus Dei, chúng ta sẽ đào sâu suy ngẫm về lời mời gọi trở nên những “tâm hồn chiêm niệm giữa thế gian, mà qua đó Cha Thánh Josemaría đã bao hàm nhiều yếu tố tinh thần Opus Dei.” [1]

Ơn gọi đặc thù dẫn chúng ta đến khao khát sống chiêm niệm ngay giữa những hoàn cảnh thường nhật. Opus Dei không phải là một con đường để chu toàn một số bổn phận thiêng liêng; điều đó vốn rất cao quý, nhưng vẫn chưa đủ. Tinh thần của chúng ta hướng đến một điều xa hơn: đó là việc nhìn ngắm và yêu mến thế giới bằng chính tình yêu của Thiên Chúa, để cùng chia sẻ cách Người nhìn mọi sự. Đây là lời mời gọi đầy hoài bão, và vì thế, chúng ta không thể dựa vào sức riêng mình, nhưng trước hết và trên hết nhờ vào ơn Chúa giúp. Do đó, khi hướng đến kỷ niệm bách chu niên Opus Dei, với khao khát lớn lao là sống trọn vẹn ơn gọi, chúng ta có thể tự hỏi: Tôi có thấy mình được mời gọi sống chiêm niệm không? Tôi có nhận ra rằng,bất chấp những khuyết điểm và khó khăn của tôi, Thiên Chúa vẫn muốn tôi trở nên một tâm hồn chiêm niệm giữa thế gian? Tôi có ý thức rằng Thiên Chúa đang mời gọi tôi tìm kiếm Người trong từng bước đi, trong từng sự kiện và khoảnh khắc không?

2. Để hiểu chiêm niệm là gì, truyền thống thần học của Giáo Hội cho chúng ta một định nghĩa kinh điển từ Thánh Tôma Aquinô:Chiêm niệm là simplex intuitus veritatis ex caritate procedens, tức là cái nhìn đơn sơ và trực giác hướng về chân lý trào dâng từ tình yêu. [2] Đó không phải là một nỗ lực thuần túy tri thức hay một suy niệm trừu tượng. Chiêm niệm là một cái nhìn đong đầy trìu mến, một cái nhìn phát xuất từ tình yêu. Như Đức Bênêđíctô XVI đã nói: “Chương trình của người Kitô hữu - chương trình của Người Samari Nhân Hậu, chương trình của Chúa Giêsu - là một 'trái tim biết nhìn thấy'. Trái tim ấy nhìn thấy nơi đâu cần tình yêu và hành động tương ứng.” [3] Khi trái tim đong đầy tình yêu Thiên Chúa, trí tuệ và cảm xúc sẽ hợp nhất trong một hành vi nhìn ngắm đơn sơ. Người ta nhìn ngắm điều mình yêu mến, và chính cái nhìn ấy dần dần biến đổi người chiêm niệm.

Quay lại Mục lục

Cuộc trò chuyện liên lỉ của Chúa Giêsu với Chúa Cha

3. Đối với chúng ta, Đức Kitô không chỉ đơn thuần là một khuôn mẫu để bắt chước; Người chính là sự sống của chúng ta; Người muốn sống trong cuộc đời chúng ta. Suốt quãng thời gian sống trên trần gian, Đức Kitô minh chứng cuộc trò chuyện liên lỉ của Người với Chúa Cha trong biết bao hoàn cảnh và nơi chốn khác nhau. Chúng ta thấy Người cầu nguyện, như khi Người chịu phép rửa tại sông Giođan (x. Lc 3,21); khi Người tìm đến những nơi thanh vắng để chìm vào thinh lặng với Cha (x. Mc 1,35; Lc 5,16; 9,18); khi Người lên núi cao hẻo lánh (x. Mt 14,23; Mc 6,46; Lc 6,12; 9,28-29). Và trong Cuộc Khổ Nạn, chúng ta thấy Người nói chuyện với Chúa Cha, từ cơn hấp hối trong Vườn Cây Dầu (x. Mt 26,36-44) đến trên Thập Giá (x. Lc 23,34.46).

Tuy nhiên, bên cạnh những chi tiết đề cập đến thời gian và hình thức cầu nguyện của Chúa Giêsu, [4] chúng ta biết rằng thực tế toàn bộ cuộc đời Người là một cuộc đối thoại không ngừng, một cuộc trò chuyện được dệt nên bằng hành động và cái nhìn, bằng công việc và nghỉ ngơi. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu “tuôn chảy xuyên suốt cuộc đời Người như một mạch nước thầm lặng làm phong phú các mối tương quan và hành động của Người, và dẫn dắt Người, với sức mạnh ngày càng lớn lao, hướng đến sự tự hiến trọn vẹn theo kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa Cha.” [5]

Thánh Josemaría chú ý cách đặc biệt đến việc chiêm niệm của Đức Kitô trong 30 năm Người sống ẩn dật. Cuộc sống ấy của Đức Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse đong đầy chiêm niệm, nhưng đồng thời lại hoàn toàn bình thường, không có gì khác thường. Thánh Josemaría nói: “Việc Chúa Giêsu lớn lên và sống như chúng ta cho ta thấy rằng cuộc sống của con người và các hoạt động thường nhật mang một ý nghĩa thiêng liêng. Đức Giêsu sống ẩn dật, nhưng đối với chúng ta, khoảng thời gian đó tràn ngập ánh sáng. Khoảng thời gian đó soi sáng những ngày sống của chúng ta và cho chúng có ý nghĩa.” [6]

Quay lại Mục lục

Chiêm niệm trong cuộc đời Thánh Josemaría

4. “Một tâm hồn chiêm niệm lữ hành”: đó là cách mà Sắc lệnh các Nhân đức Anh hùng đã định nghĩa về Thánh Josemaría. Văn kiện này ghi nhận: “Những nét đặc trưng nhất trong tính cách của ngài không chỉ được tìm thấy nơi các ân sủng phi thường của một con người hành động, nhưng còn nằm trong đời sống cầu nguyện và kinh nghiệm kết hợp mật thiết liên lỉ, những thứ đã biến ngài thành một tâm hồn chiêm niệm lữ hành.” [7] Đó cũng chính là điều mà chúng ta, những người con của ngài trong Opus Dei, cũng như tất cả những ai tiếp xúc với Opus Dei, được mời gọi trở nên những “tâm hồn chiêm niệm lữ hành”, để sống trong cuộc trò chuyện với Chúa ngay giữa phố phường đô thị và trong nhịp sống hối hả mỗi ngày, để luôn ở với Chúa bất cứ nơi đâu: trong gia đình, tại sở làm, giữa các môi trường xã hội.

“Lạy Chúa Giêsu, xin cho sự xao nhãng của con diễn ra theo chiều ngược lại. Thay vì nhớ đến thế gian khi trò chuyện với Chúa, thì xin cho con biết nhớ đến Chúa khi bận rộn với những công việc thế gian,” Thánh Josemaría từng cầu nguyện như thế. [8] Đấng Sáng lập Opus Dei luôn tìm khám phá Thiên Chúa đằng sau mọi sự đang diễn ra. Ngài cố gắng nhận ra sự hiện diện của Người trong những gì tưởng chừng rất trần thế. Ngài muốn khám phá ra chất thơ – những “vần thơ anh hùng” [9] – từ những hành động có vẻ vô nghĩa và tầm thường.

5. Thánh Josemaría có một xác tín thiêng liêng về lời mời gọi ấy ngang qua những kinh nghiệm cầu nguyện mãnh liệt giữa những xao nhãng của thế gian: lúc đọc báo, khi đi xe điện, giữa những ồn ào và nhộn nhịp của đô thị lớn – tóm lại là những tình huống giống cuộc sống của chúng ta.

Ngài từng viết: “Tôi muốn ghi lại một điều, bởi vì nó khá kỳ lạ: Chúa Giêsu thường hay ban cho tôi ơn cầu nguyện khi tôi bắt đầu đọc báo.” [10] Vài ngày sau, ngài lại ghi một điều tương tự: “Thứ bảy tuần trước, tôi ngồi trong công viên Retiro và bắt đầu đọc báo. Lời cầu nguyện chợt ập xuống trên tôi mạnh mẽ đến mức, trái với ý mình, tôi phải ngừng đọc. Và rồi, Chúa Giêsu đã đặt vào lòng và trên môi miệng tôi biết bao lời yêu mến và phó thác!” [11] Ngài cũng ghi lại lời cầu nguyện trong lúc di chuyển hằng ngày: “Lời cầu nguyện mãnh liệt nhất xảy ra khi tôi đang trên xe điện; rồi sau đó, lúc rảo bước qua đường phố Madrid, tôi chiêm ngắm thực tại kỳ diệu này: Thiên Chúa là Cha của tôi.” [12] Và ngày mà cha gửi bức thư này cho các con là vừa tròn 95 năm kể từ kinh nghiệm đó của ngài.[13]

Vào đầu nửa sau thế kỷ 20, một điều tương tự cũng xảy ra với ngài trong chuyến thăm đầu tiên đến thành phố Luân Đôn, một trong những thủ đô đa văn hóa lớn của thế giới: “Khi ngắm nhìn quang cảnh ở đó, tôi cảm thấy bàng hoàng và vô dụng, như không còn chút sức lực: ‘Josemaría, ở đây con chẳng thể làm được gì.’ Tôi hoàn toàn đúng. Tự sức mình, tôi không đạt được điều gì; không có Chúa, tôi thậm chí không nhấc nổi một cọng rơm... Thế rồi đột nhiên, ngay giữa phố xá, giữa dòng người đến từ khắp thế giới đang đi đi lại lại, từ bên trong tôi, từ sâu thẳm tâm hồn, tôi cảm nhận hiệu năng của cánh tay Thiên Chúa: ‘Con không thể làm gì, nhưng Ta có thể làm được mọi sự.’” [14]

Đó chính là con đường mà Thánh Thần mời gọi chúng ta bước đi qua Thánh Josemaría: bước đi trong đời với niềm tin và sức mạnh đến từ việc là những người con yêu dấu của Thiên Chúa, sống và chia sẻ mọi sự với Người. Hay nói theo lời mà Thầy Chí Thánh đã để lại ấn tượng không phai nơi người môn đệ được yêu: ở lại trong Người. [15]

Quay lại Mục lục

Giữa một thế giới hối hả

6. Các nhà bình luận về thế giới đương đại nhận ra trong xã hội khuynh hướng nghiêng về chủ nghĩa hoạt động (activism), về việc con người dành trọn cuộc đời chỉ cho công việc: nỗ lực của nhiều người dường như chỉ hướng đến việc gia tăng năng suất, nhằm đạt sự thịnh vượng thông qua tích lũy của cải vật chất, trải nghiệm, vị thế xã hội… Thêm vào đó là những tác động, trong hầu hết mọi lĩnh vực, của sự hiện diện thường trực các công nghệ – những thứ mà nếu không được sử dụng cách khôn ngoan, có thể cô lập ta, cản trở tương tác với người khác, và thậm chí làm ta khó mở lòng cho Thiên Chúa và tha nhân. Thật vậy, người ta đang nói về một cuộc khủng hoảng thật sự về sự chiêm niệm và chú ý – vốn vô cùng thiết yếu đối với đời sống nội tâm của con người và cho tình yêu đồng loại. Khả năng chú ý của chúng ta bị phân mảnh bởi nhiều mối bận tâm đang cạnh tranh giành giật sự chú ý của chúng ta. Như Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã chỉ ra gần đây: “Các công nghệ mới đã tạo ra một môi trường nhân tạo, nơi mà những lựa chọn căn bản của chúng ta bị thách thức.” [16]

7. Đứng trước thực trạng này, nhiều nơi trên thế giới hôm nay đang tìm kiếm những phương cách giải phóng con người, để mang lại ý nghĩa sống vượt trên những hoạt động cuồng nhiệt thuần túy. Điều này có thể giải thích phần nào cho sự quan tâm dành cho yếu tố “tâm linh” vốn có thể nhận thấy ở một số quốc gia trong những thập niên qua. Đang có một sự bùng nổ các đề xuất mà rốt cuộc vẫn chưa trọn vẹn trong nhiều trường hợp, vì chúng tỏ ra còn thiếu khi so với sự viên mãn của đời sống siêu nhiên và nhân văn mà Chúa Kitô mang đến cho chúng ta.

Trong khi một số tiếp cận không vượt qua được những bảo đảm mong manh của các thực tại vật chất và thịnh vượng trần thế, thì“đồng thời chúng ta cũng thấy nhiều dấu chỉ của một sự thức tỉnh về ý nghĩa tôn giáo, một sự tái khám phá tầm quan trọng của Thiên Chúa đối với đời sống con người, một nhu cầu về linh đạo, để vượt qua nhãn quan thuần túy ngắn hạn và duy vật về đời sống con người.” [17] Tất cả chúng ta hẳn đều cảm nhận quanh mình cơn khát tâm linh ấy, vốn mong muốn khám phá sự chiêm niệm, đồng hành và bình an của Thiên Chúa.

8. Thánh Josemaría mời gọi mọi Kitô hữu “trở thành những tâm hồn cầu nguyện”, những tâm hồn chiêm niệm ở giữa thế gian, bằng những lời luôn mang tính thời sự cho mọi thời đại, ngay cả giữa bối cảnh tục hóa và phát triển công nghệ ngày nay: “Chừng nào còn sức hít thở, tôi còn tiếp tục rao giảng rằng điều cốt yếu mang tính sống còn là chúng ta phải trở thành những tâm hồn cầu nguyện trong mọi lúc, mọi cơ hội và mọi hoàn cảnh, bởi vì Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta... Khi chúng ta tìm kiếm Chúa theo cách đó, toàn bộ ngày sống của ta sẽ trở thành một cuộc trò chuyện thân tình và tin cậy với Người. Tôi đã nói và viết điều này rất nhiều lần, nhưng tôi không ngại nói lại lần nữa, bởi vì Chúa Giêsu đã tỏ cho chúng ta thấy qua gương sống của Người rằng đó chính là điều chúng ta phải làm: chúng ta phải cầu nguyện mọi lúc, từ sáng đến tối và từ tối đến sáng.” [18] Quả thật, chúng ta đang sống trong những hoàn cảnh rất thuận lợi – bởi vì thế giới đang khao khát điều đó – để truyền rao nhãn quan ấy.

Năm trước, trong bài giảng Thánh Lễ mừng kính Thánh Josemaría, cha đã suy tư rằng“nỗi khao khát điều vĩnh hằng biểu lộ theo nhiều cách thức, mặc dù không phải mọi cách thức đều thỏa mãn tâm hồn. Có lẽ chúng ta từng lãng phí thời gian khi khao khát một hạnh phúc chỉ được xây dựng trên của cải vật chất, sự thành công hay thoải mái. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới mang lại ý nghĩa cho mọi thực tại và lấp đầy những khao khát của tâm hồn ta.” [19] Chính cơn khát tâm linh ấy, chính nỗi khao khát Thiên Chúa đang thổn thức từ sâu thẳm tâm hồn của mỗi người – ngay cả những người dường như xa cách Giáo Hội nhất – làm cho việc loan báo lời mời gọi của Thiên Chúa về việc trở thành những tâm hồn chiêm niệm ở giữa thế gian trở nên đặc biệt cần thiết.

Quay lại Mục lục

“Lạy Chúa, con tìm kiếm Thánh Nhan Chúa!”

9. Sức sống nội tại của tình yêu chính là việc tìm kiếm người mình yêu. Những ai đang yêu sẽ không bằng lòng với một hiểu biết hời hợt, hoặc chỉ biết vài điều về người mình yêu: họ khao khát được nhìn ngắm khuôn mặt, được ở với, được nghe tiếng nói của người yêu. Lời cầu nguyện Kitô giáo đích thực được ghi dấu bởi tiếng kêu chan chứa hiếu thảo của tác giả Thánh Vịnh: Vultum tuum, Domine, requiram (Tv 27 [26],8), “Lạy Chúa, con tìm kiếm Thánh Nhan Chúa!”

Cha Thánh của chúng ta đã trải nghiệm và khuyên dạy về việc say mê tìm kiếm gương mặt Đức Kitô giữa cuộc sống thường nhật. Trong một bài giảng, với sức thuyết phục đến từ kinh nghiệm sống, ngài nói về việc một người mến Chúa cảm thấy nhu cầu không thể kìm hãm là liên lỉ tìm kiếm Người:“Thoạt tiên là một lời nguyện ngắn, rồi một lời nữa, và thêm một lời nữa… cho đến khi lòng nhiệt thành của chúng ta dường như không đủ, vì mọi ngôn từ đều trở nên quá đỗi nghèo nàn…; khi ấy, điều đó sẽ nhường chỗ cho sự thân tình với Chúa, nhìn ngắm Chúa mà không cần nghỉ ngơi và không biết mệt mỏi. Ta bắt đầu sống như những tù nhân, những kẻ bị giam cầm [bởi tình yêu]. Và trong lúc ta thực hiện cách hoàn hảo nhất có thể (với tất cả những sai lầm và giới hạn của bản thân) những công việc theo hoàn cảnh và bổn phận, thì linh hồn ta lại khao khát vượt thoát ra. Nó bị hút về phía Chúa như sắt bị nam châm hút. Rồi ta bắt đầu yêu mến Chúa Giêsu cách hiệu quả hơn, với sự ngạc nhiên ngọt ngào và dịu dàng khi gặp Người.” [20]

Một tâm hồn tìm kiếm Thánh Nhan Chúa giữa đời sống thường nhật sẽ tìm thấy ngay một vị trí đặc tuyển dành cho cuộc gặp ấy. Chiêm niệm không chỉ dành cho một số ít người được chọn, cũng không phải là mục tiêu chỉ dành cho những ai thoát ly thế gian. Khát vọng chiêm ngắm Thiên Chúa được hình thành ngay trong các hoạt động hằng ngày. Ta gặp Chúa nơi bàn làm việc, khi chăm sóc gia đình, trong các mối quan hệ xã hội và trong những phút nghỉ ngơi. Tình yêu hướng dẫn chúng ta khám phá Đức Kitô ngay tại đó. Người nhìn ta với tình yêu và mời ta hướng đôi mắt tâm hồn mình về phía Người.

Quay lại Mục lục

Thấy Chúa trong mọi sự

10. Cái nhìn đong đầy yêu thương ấy biến đổi sâu sắc cách chúng ta hiểu biết thực tại. Chúng ta bắt đầu nhận ra lý do để tri ân và chúc tụng chính tại nơi mà trước đây chúng ta chỉ thấy khó khăn và vấn đề. Ta bắt đầu cảm nhận sự chăm sóc liên lỉ của Thiên Chúa chính tại nơi mà trước đây ta tưởng mình bị bỏ mặc cho số phận. Ta bắt đầu trò chuyện với Chúa chính tại nơi mà trước đây chúng ta chỉ nuôi dưỡng cuộc độc thoại nội tâm. “Dù ở đâu – trong sự ồn ào náo nhiệt của phố xá hay giữa mọi bận rộn của con người, trong nhà máy, nơi trường học, trên nông trại, tại văn phòng, hay trong gia đình – chúng ta sẽ thấy mình chìm đắm trong sự chiêm niệm đơn sơ của tình con thảo, trong cuộc trò chuyện không ngừng với Thiên Chúa. Đó là bởi vì tất cả mọi sự – con người, sự vật, công việc – đều mang lại cho ta cơ hội lẫn chủ đề cho cuộc trò chuyện liên lỉ với Chúa.” [21]

Đức tin mở mắt để ta nhận ra sự hiện diện luôn chủ động của Thiên Chúa ngay tại đây và vào lúc này. Và như thế, chúng ta khám phá ra giá trị vô giá của từng khoảnh khắc và hoàn cảnh, biết rằng trong mỗi phút giây, chúng ta là đối tượng của tình yêu vô bờ bến của Chúa Cha. Chúng ta nhận ra sự chăm sóc dịu dàng của Thiên Chúa Quan Phòng trong những sự kiện nhỏ bé cũng như lớn lao mỗi ngày. Niềm vui, khó khăn, thành công hay thất bại đều trở thành “nguyên liệu” và bối cảnh cho cuộc trò chuyện với Chúa. Không gì là vô ích. Không gì thiếu vắng giá trị siêu nhiên nếu được thực hiện bằng tình yêu và khát vọng phục vụ, để trở thành điểm tựa cho tha nhân.

Quay lại Mục lục

Hướng mắt lên trời trong lúc giữ vững đôi chân trên mặt đất

11. Luôn tồn tại nguy cơ nhầm lẫn giữa đời sống siêu nhiên với việc trốn chạy các bổn phận hằng ngày, hoặc với việc trốn tránh trong những lý tưởng trừu tượng. Ngược lại, chiêm niệm Kitô giáo đích thực cắm rễ sâu xa trong mầu nhiệm Nhập Thể. Thiên Chúa không bảo chúng ta đắm đuối nhìn lên mây trời để mơ mộng viển vông, nhưng là nâng tâm hồn hướng lên trời cao qua chính những gì ta đang trải nghiệm, những gì ta đang đảm nhận, cả qua những sự kiện bất ngờ hay những trắc trở của ngày sống – những thứ vốn là đặc trưng cố hữu của cuộc sống thường nhật.

Cùng với những khoảng thời gian hồi tâm cần thiết dành cho cầu nguyện, thì công việc được hoàn thành cách tốt đẹp, việc chăm sóc gia đình, các nghĩa vụ công dân và tình bạn cũng chính là nơi để chúng ta chiêm niệm. Trong bài giảng “Say mê Yêu mến Thế giới”, Thánh Josemaría mạnh mẽ diễn tả điều này: “Không có con đường nào khác. Hoặc chúng ta học cách tìm kiếm Chúa trong đời sống thường nhật, hoặc không bao giờ chúng ta tìm thấy Người. Đó là lý do tại sao tôi có thể nói với anh chị em rằng thời đại chúng ta cần trả lại cho vật chất, các sự kiện và hoàn cảnh tầm thường nhất ý nghĩa cao quý và nguyên thủy của chúng; cần đưa chúng trở lại phụng sự Nước Thiên Chúa, cần siêu nhiên hóa chúng, biến chúng thành phương tiện và cơ hội để chúng ta liên tục gặp gỡ Đức Giêsu Kitô.” [22]

Tóm lại, chiêm niệm không hề tách ta khỏi các trách nhiệm trần thế. Trái lại, chiêm niệm giúp ta chu toàn những trách nhiệm đó bằng nỗ lực và lòng mến, bởi vì ta nhìn thấy và yêu mến chúng với Chúa và trong Chúa. Chính vì thế, Cha Thánh đã nói với chúng ta về việc sống “mỗi khoảnh khắc đời mình với ý thức sống động về vĩnh cữu.” [23]

12. Một tâm hồn cảm nếm sự ngọt ngào của sự hiện diện thần linh sẽ trải nghiệm một sự căng thẳng thánh thiêng: vừa mãnh liệt khao khát hợp nhất trọn vẹn với Chúa trên thiên đàng, vừa ý thức về sứ mạng Chúa giao phó trên trần gian. Thánh Josemaría đã mô tả trạng thái nội tâm này, nơi mà lời cầu nguyện lan man được biến thành một chiêm niệm thanh thản và sâu sắc hơn: “Lời nói trở nên vô dụng…; rồi điều đó nhường chỗ cho sự thân tình với Thiên Chúa, nhìn ngắm Thiên Chúa mà không cần nghỉ ngơi và không biết mệt mỏi. Người ta không suy luận nữa; người ta nhìn ngắm! Rồi linh hồn vỡ òa tiếng hát một bài ca mới, bởi vì nó cảm nhận và biết rằng Thiên Chúa đang yêu thương nhìn ngắm nó, mãi mãi.” [24]

Không hề đưa chúng ta rời xa khoảnh khắc hiện tại, chiêm niệm đưa chúng ta đến gần nó hơn. Được ân sủng Chúa nâng lên, chúng ta trải nghiệm nghịch lý vui tươi của việc “vừa ở trên trời vừa ở dưới đất.” Đôi chân chúng ta bám chặt mặt đất, đối mặt với các vấn đề, thách đố và hy vọng của người đương thời, trong lúc tâm trí và trái tim chúng ta neo chặt “trong dòng chảy tình yêu, chính là mầu nhiệm của Thiên Chúa – Ba Ngôi Cực Thánh.” [25]

Thánh Augustinô diễn tả sự thuộc về kép – vừa thuộc về trần thế, vừa thuộc về thiên đàng – một cách rõ ràng như sau: “Tình cảm của bạn là những bước chân. Ý chí của bạn là con đường. Nhờ yêu mến, bạn đi lên. Vì lơ là, bạn đi xuống. Nhờ yêu mến Thiên Chúa, bạn sẽ ở trên thiên đàng, ngay cả khi bạn còn ở trên trái đất. Trái tim được nâng lên không theo cùng cách thức như thân xác. Để nâng thân xác lên, người ta phải thay đổi vị trí của nó. Để nâng trái tim bạn lên, hãy thay đổi ý chí của bạn.” [26]

Quay lại Mục lục

Thời gian ngắn ngủi

13. Bản chất trần thế trong ơn gọi Opus Dei không làm mất định hướng điểm đến của chúng ta. Chúng ta lữ hành qua lịch sử và biết rằng quê hương đích thực ở trên trời (x. Pl 3,20). Ý thức về sự thấm thoát của thời gian đong đầy cuộc sống ta một tinh thần cấp thiết phải yêu thương. Thánh Phaolô cảnh báo: Tempus breve est (1 Cr 7,29), thời gian ngắn ngủi. Đó không phải là lý do để lo âu, nhưng đúng hơn là lời khích lệ để tận dụng tối đa, với sự thanh thản, mọi cơ hội Thiên Chúa ban để trổ sinh hoa trái bác ái.

Thánh Josemaría thường suy ngẫm về thực tại này để khuyến khích ta đáp lại bằng một dấn thân quảng đại và hân hoan: “Tempus breve est! (1 Cr 7,29). Thời gian chúng ta đi qua trần gian này ngắn ngủi biết bao! Ngắn ngủi biết bao thời gian để yêu thương, hiến dâng, và đền tạ. Vì thế, sẽ vô cùng sai lầm nếu chúng ta lãng phí thời gian, hoặc tiêu xài vô trách nhiệm kho báu này. Chúng ta không được hoang phí khoảng thời gian lịch sử Thiên Chúa trao cho mỗi người chúng ta.” [27]

Thời gian là nén bạc Chúa đã đặt vào tay ta để ta thánh hóa nó. Mỗi giờ làm việc, mỗi cử chỉ trìu mến, mỗi hành động tử tế nhỏ bé dành cho tha nhân đều là một đồng tiền gửi về vĩnh cữu. Khi nghĩ về mục tiêu vinh quang cuối cùng, ta nhận ra rằng tình yêu mình đặt vào những điều nhỏ bé và lớn lao mỗi ngày chính là thứ duy nhất sẽ tồn tại mãi mãi.

Quay lại Mục lục

Chiêm niệm là quà tặng của Chúa

14. Cũng cần nhớ rằng chiêm niệm không đơn thuần là kết quả của các kỹ thuật con người hoặc các phương pháp tập trung tâm lý. Chiêm niệm, trên hết, là quà tặng cho không từ Thiên Chúa, một ân sủng mà Thánh Thần ban cho những tâm hồn khiêm nhường và ngoan quỳ. Như Thánh Têrêsa Avila nói: “Đó là một thứ Thiên Chúa ban tặng.” [28]

Vì thế, chiêm niệm đòi hỏi thái độ tin tưởng và phó thác trẻ thơ cho Thiên Chúa. Ta cần xin Chúa ban cho ánh sáng để nhìn mọi sự như Người nhìn. Thánh Josemaría thường cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con được nhìn bằng đôi mắt của Chúa, ôi Đức Kitô, Giêsu yêu dấu của con.” Xin giúp con nhìn thế giới, con người và các sự kiện với ánh sáng của chân lý Chúa và sự dịu dàng của Trái Tim Chúa. Một dịp khác, Thánh nhân tha thiết khẩn cầu: “Lạy Chúa, xin cho con được thấy! Xin mở trí con và để Lời của Đức Kitô thấm sâu tâm trí con. Xin củng cố Sự Sống Người trong tâm hồn con để con được biến đổi nhằm sẵn sàng cho Vinh Quang vĩnh hằng.” [29]

15. Mặc dù chiêm niệm là quà tặng vượt quá duy chỉ sức con người, nó cũng đòi có sự cộng tác tích cực từ phía chúng ta. Ta biết rõ rằng ân sủng không thay thế tự nhiên, nhưng bao hàm và kiện toàn tự nhiên. Vì thế, con đường dẫn đến đời sống chiêm niệm đòi phải chiến đấu cách thanh thản nhưng kiên trì.

Trước hết, cần trung thành với việc suy niệm hằng ngày. Chúng ta cần những khoảng thời gian dành riêng để gặp Chúa một mình, đó là lúc chúng ta học lắng nghe tiếng Chúa và biến đổi ý mình theo ý Chúa. Trong tâm nguyện, linh hồn được làm mới và kín múc yếu tố tâm linh cần thiết để duy trì cuộc trò chuyện liên lỉ với Chúa – thường là không cần lời nói – trong suốt thời gian còn lại của ngày sống. Như Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lưu ý: “Chúng ta không thể cầu nguyện ‘trong mọi lúc’ nếu không có những thời điểm chủ ý dành cho cầu nguyện. Đó là những thời khắc cao điểm của đời sống cầu nguyện, chăm chú hơn và kéo dài hơn.” [30]

Tiếp đến, cần bồi dưỡng ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong suốt ngày sống. Cùng với việc xin Chúa ban ơn cầu nguyện liên lỉ, có những phương tiện nhân loại giúp chúng ta tự chuẩn bị và làm cho việc cầu nguyện trở nên khả thi trong ngày sống: chủ động tìm kiếm những giây phút thinh lặng, cố gắng tập trung trong từng hoạt động, kiên trì trong công việc, khiêm nhường lắng nghe, tiếp xúc với thiên nhiên, cởi mở trong tình bạn chân thành, cùng nhiều cách thức khác. Như Chúa nói với chúng ta trong Tin Mừng, việc dọn dẹp mảnh đất tâm hồn là của chúng ta, để trổ sinh hoa trái từ ân sủng mà Thiên Chúa không ngừng ban tặng (x. Mt 13,1-13). Đức Thánh Cha Lêô XIV gần đây cũng thúc giục chúng ta gia tăng “một thái độ thật sự lành mạnh, đòi hỏi những nhịp sống tích hợp sự thinh lặng với học tập chuyên sâu, đọc sách và phân tích khôn ngoan, vì nếu thiếu những yếu tố này, tự do nội tâm có thể bị tổn hại;” [31] và do đó, khả năng cầu nguyện của chúng ta cũng bị ảnh hưởng.

16. Thánh Josemaría cảnh báo về ảo tưởng của những người hy vọng đạt được sự trưởng thành siêu nhiên một cách thụ động. Thời gian trôi qua không đơn thuần làm một người trở nên hoàn thiện: “Chỉ riêng tuổi tác không mang lại sự khôn ngoan hay thánh thiện.” [32] Điều mang lại khôn ngoan và thánh thiện là thái độ đáp trả khiêm nhường và bền đỗ với ơn Chúa. Chúng ta cần chiến đấu mỗi ngày, trong những điều nhỏ bé, không mệt mỏi, với nhận thức rằng thánh thiện không nằm ở chỗ không mắc sai lầm, nhưng ở chỗ luôn biết bắt đầu lại với lòng khiêm tốn, biết rằng Thiên Chúa đang hướng dẫn ta. Cuộc chiến hằng ngày ấy không phải – và không bao giờ nên là – một sự căng thẳng cứng nhắc, nhưng nên là nỗ lực đầy yêu thương và tin tưởng của người con muốn được Thiên Chúa Cha tìm thấy và biết rằng mình làm Cha vui ngay cả khi, dù với ý tốt lành, mình vẫn hay vấp váp và sai lầm.

Quay lại Mục lục

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch

17. Tám Mối Phúc Thật trong Tin Mừng chỉ ra một điều kiện tất yếu cho việc chiêm niệm: Beati mundo corde, quoniam ipsi Deum videbunt, “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Sự trong sạch của tâm hồn không chỉ giới hạn nơi đức khiết tịnh, mặc dù chắc chắn phải bao gồm nhân đức này. Sự trong sạch của tâm hồn là sự tự do nội tâm của một con tim thoát khỏi mọi ràng buộc lệch lạc của ích kỷ, giàu sang, thành công cá nhân và ý kiến riêng. Có một tâm hồn trong sạch là có một trái tim trong sáng và tự do để yêu Chúa và tha nhân. Những ai đong đầy mình bằng bản thân, đong đầy những phán xét và ích kỷ, thì không thể nhìn thấy Thiên Chúa, vì đôi mắt siêu nhiên của họ đã bị che mờ.

Điều này cũng giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng đặc biệt của các nhân đức khiết tịnh và khó nghèo đối với tự do tâm hồn. Sự cần thiết của hai nhân đức này trên con đường nên thánh là một trải nghiệm thiêng liêng thường thấy. Như Thánh Josemaría viết trong một số ghi chép năm 1932, mà sau này ngài đưa vào quyển Con Đường: “Giêsu ơi, xin gỡ khỏi con lớp vỏ bẩn thỉu của sự đồi bại nhục dục đang bao phủ tâm hồn con, để con có thể cảm nhận và sẵn sàng vâng theo tác động của Đấng An Ủi trên tâm hồn con.” [33] Ngài cũng viết như sau về đức khó nghèo: “Nếu bạn là người của Chúa, hãy coi nhẹ của cải một cách mãnh liệt như cách người thế gian tìm sở hữu chúng.” [34] Điều đó hoàn toàn không phải là khinh chê những gì Thiên Chúa tạo thành; nhưng là lời mời gọi nhìn mọi thứ một cách không ngây thơ, biết rằng ta có thể dễ dàng đánh mất tự do nếu để trái tim gắn bó quá đáng với của cải vật chất. Để trở nên một tâm hồn chiêm niệm giữa thế gian, cần hết sức cẩn trọng với những lĩnh vực này qua việc xét mình, và phải hành động quyết liệt nếu gặp thử thách nghiêm trọng.

18. Thứ có thể giúp thanh tẩy tâm hồn khỏi những dính bén lệch lạc là hãm mình và sám hối, cả trong lẫn ngoài. Vì thế, Thánh Josemaría thường xem hãm mình như con đường để đạt được “sự chế ngự đúng đắn đối với những thực tại trần thế này” [35] – để thật sự tự do, làm chủ bản thân, nhờ đó ta dễ dàng mở rộng con tim cho Thiên Chúa và tha nhân thông qua điều mà ngài gọi cách sống động là “lời cầu nguyện của các giác quan.” [36] Trên con đường sám hối này, vốn rất cần để thanh tẩy tâm hồn và sống chiêm niệm, ta đừng bao giờ quên rằng mọi sự phải được thúc đẩy bởi tình yêu, bởi vì “hãm mình sẽ vô ích nếu thiếu bác ái.” [37]

Quay lại Mục lục

Thấy Chúa nơi những người quanh ta

19. Đời sống chiêm niệm không nhốt người Kitô hữu trong một sự thân tình cá nhân. Trái lại, chiêm niệm đích thực mở rộng tấm lòng và hướng mắt chúng ta về anh chị em mình. Những ai học được cách nhìn thấy Chúa trong cầu nguyện cũng sẽ học được cách khám phá ra hình ảnh và sự hiện diện của Người nơi những người quanh mình.

Thánh Josemaría nhắc rằng chúng ta không thể tách tình yêu dành cho Thiên Chúa khỏi tình yêu dành cho tha nhân. Tình cảm dành cho người thân, việc thấu hiểu đồng nghiệp, lòng bác ái dành cho người túng thiếu, tình bạn được vun đắp chân thành… – tất cả những điều đó cần được tình yêu Thiên Chúa biến đổi. Chúng ta không có một trái tim dành riêng để yêu Chúa và một trái tim khác để yêu người xung quanh; chúng ta yêu bằng một trái tim duy nhất. [38]

Đời sống chiêm niệm được biểu lộ qua chất lượng của tình bác ái huynh đệ. Tinh tế trong ứng xử với tha nhân, tôn trọng tự do của họ, tinh thần phục vụ vui tươi và khả năng lắng nghe chính là những dấu chỉ cụ thể của một đời sống cầu nguyện chân thành; chúng chứng tỏ ta nhận ra Thiên Chúa đang chờ đợi ta nơi tha nhân (x. Mt 25,40).

Quay lại Mục lục

Như những người con yêu dấu

20. Nền tảng trong tinh thần của chúng ta là ý thức hân hoan về tình nghĩa tử thiêng liêng. Chúng ta thật sự là con của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Chính từ tình nghĩa tử thiêng liêng này tuôn trào tình huynh đệ nhân loại và Kitô giáo đích thực. Vì biết mình là con của cùng một Cha, chúng ta xem tha nhân “như những người con yêu dấu” của Thiên Chúa. Chúng ta nhận ra phẩm giá mà mỗi con người sở hữu, vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Đặc biệt, việc nhận ra giá trị vô giá của mỗi linh hồn đem đến cho chúng ta tình cảm chân thành dành cho họ. Mỗi con người đều đáng giá bằng tất cả Bửu Huyết của Đức Kitô. Chân lý này giải thoát chúng ta khỏi việc đánh giá qua bề ngoài hay khuyết điểm của tha nhân, đồng thời thúc bách chúng ta yêu thương nhau chân thành, bằng hành động và trong sự thật.

Khi chiêm ngắm mầu nhiệm Cứu Độ, chúng ta hiểu hơn rằng tình yêu dành cho tha nhân không thể mang tính chọn lọc hay có điều kiện. Đức ái đòi phải vượt qua những định kiến và khác biệt về tính cách và suy nghĩ, luôn tìm kiếm những gì nối kết và xây dựng những nhịp cầu hiệp thông. Trong tương tác hằng ngày vốn không thể tránh khỏi những giới hạn và yếu đuối con người, đức ái chiêm niệm được thể hiện qua kiên nhẫn, thấu hiểu và tha thứ.

21. Ai biết rằng mình được Thiên Chúa thứ tha thì không thể nuôi dưỡng hận thù hay oán giận. Thánh Josemaría để lại cho chúng ta một giáo huấn không thể nào quên về sự tha thứ, nảy sinh từ chính kinh nghiệm và đời sống cầu nguyện sâu sắc của ngài: “Tôi không cần phải học cách tha thứ, vì Đức Giêsu đã dạy tôi cách yêu thương.” [39] Sự thấu hiểu, đức ái đích thực, luôn thể hiện qua việc biết xin lỗi, biết tha thứ, không ghi nhớ những xúc phạm đã chịu. Thấu hiểu bao hàm nhiều hơn là bao dung: đó là đặt mình vào vị trí của người khác, bỏ qua lỗi lầm của họ và tinh tế giúp họ vượt qua chúng.

Tha thứ không phải là yếu đuối, mà là biểu hiện cao nhất của sức mạnh tình yêu Kitô giáo. Bằng cách tha thứ những xúc phạm, dù lớn hay nhỏ, người Kitô hữu phản chiếu khuôn mặt giàu lòng thương xót của Thiên Chúa cho thế giới. Trong một thế giới bị xâu xé bởi chia rẽ và xung đột, mọi môn đệ Đức Kitô được mời gọi, theo cách này hay cách khác, trở thành những người gieo bình an và niềm vui, xua tan bóng tối hận thù bằng ánh sáng của đức tin và sức mạnh của đức ái.

Quay lại Mục lục

Khát khao các linh hồn

22. “Sự thánh thiện chân thật sẽ tuôn trào và đong đầy những trái tim, những tâm hồn bằng sự dồi dào của chính nó.” [40] Vì thế, việc chiêm niệm giữa thế gian sẽ làm nảy sinh một cách tự nhiên lòng nhiệt thành tông đồ mãnh liệt. Không thể cảm nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho mọi người mà lại không thấy khát khao cháy bỏng muốn chia sẻ tình yêu ấy với mọi người.

Những tâm hồn chiêm niệm nhìn thế giới bằng đôi mắt tông đồ. Họ không than vãn những khó khăn của thời đại hay những trở ngại vì xã hội này xa cách Thiên Chúa, nhưng khám phá ra trong mọi hoàn cảnh những cơ hội để mang đến ánh sáng Tin Mừng. Nhãn quan của họ về thế giới là nhãn quan của hy vọng và lòng trắc ẩn sâu xa dành cho những con người đang lang thang không định hướng, với ý thức rằng, bất chấp tất cả, những con người ấy có thể trở nên tốt hơn cả chính họ (x. Mt 21,31).

23. Thánh Josemaría tóm tắt sự hợp nhất giữa chiêm niệm và tông đồ bằng những lời này: “Đời sống nội tâm là ngày càng kết hợp với Đức Kitô, trong Bánh và trong Lời. Còn lòng nhiệt thành tông đồ chính là biểu hiện chính xác, rõ ràng và nhất thiết của đời sống nội tâm.” [41] Vì thế, ta hiểu tại sao đời sống cầu nguyện đích thực sẽ không bị dập tắt bởi tính ích kỷ của tự mãn tâm linh; nhưng nó sẽ là ngọn lửa nóng rực, bừng cháy và thúc bách ta dấn thân làm tông đồ. Đối với người Kitô hữu, làm tông đồ không phải là hoạt động phụ trội, cũng không phải việc làm lúc rảnh rỗi; trái lại, làm tông đồ là nhu cầu sống còn để trao cho người khác chân lý và tình yêu đang đong đầy trái tim mình.

“Chúng ta không ‘làm tông đồ’, chúng ta là tông đồ!”, cha đã viết cho các con như thế cách đây vài năm. [42] Cùng tinh thần đó, có thể nói rằng chúng ta không thực hành chiêm niệm, chúng ta là những tâm hồn chiêm niệm. Chiêm niệm không phải là việc thỉnh thoảng chúng ta làm, bên cạnh những việc khác; nhưng chiêm niệm là một cách sống và cách nhìn cuộc sống, trong Chúa và từ Chúa, điều sẽ định hình tất cả những gì chúng ta làm, tất cả những gì chúng ta trải qua, tất cả những gì chúng ta cảm nhận. Do đó, chiêm niệm, làm việc, tình huynh đệ và việc tông đồ là những chiều kích của đời sống Kitô hữu. Khi chiêm ngắm Thiên Chúa trong cầu nguyện, chúng ta cũng khám phá ra Người qua lao động, chúng ta yêu mến Người nơi anh chị em và chúng ta hân hoan loan báo Người cho toàn thể thế giới.

* * *

24. Khép lại thư này, cha muốn hướng nhìn về Đức Trinh Nữ Maria, người thầy dạy chiêm niệm trong đời sống thường nhật. Dưới mái nhà Nadarét, giữa những bổn phận gia đình đơn sơ nhất, Mẹ Maria đã chiêm ngắm Con của mình. “Đức Maria đã sống với ánh mắt hướng trọn về Chúa Kitô, trân trọng từng lời nói của Người: ‘Mẹ hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy niệm trong lòng’ (Lc 2,19; x. 2,51). Những ký ức về Đức Giêsu khắc sâu trong lòng Mẹ, luôn đồng hành với Mẹ, hướng dẫn Mẹ trải qua những khoảnh khắc trong cuộc đời bên cạnh Con mình. Theo cách nào đó, những ký ức ấy kết thành ‘tràng hạt Mân Côi’ mà Mẹ không ngừng cất lên trong cuộc đời trần thế của mình.” [43]

Hãy xin Mẹ giúp chúng ta trên con đường hướng đến kỷ niệm bách chu niên với đôi mắt của tâm trí và con tim luôn hướng về Chúa Giêsu, bằng nỗ lực – bất chấp những yếu đuối của bản thân – để trở nên những chứng nhân trung thành cho đức ái của Chúa Kitô giữa lòng thế gian.

Cha chúc lành cho tất cả các con với hết lòng trìu mến,

Rôma, ngày 16 tháng 10 năm 2026

Ghi chú

[1] X. Thông điệp tháng 3 năm 2026.

[2] X. Thánh Tôma Aquinô,Summa Theologica, II-II, q. 180, a. 3.

[3] Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 31.

[4] X. Giáo lý Giáo hội Công giáo, số 2598–2616.

[5] Đức Giáo hoàng Bênêđíctô, Tiếp kiến chung, ngày 30 tháng 11 năm 2011.

[6] Thánh Josemaría, Đức Kitô Đi Qua, số 14.

[7] Sắc lệnh về các Nhân đức Anh hùng của Tôi tớ Chúa Josemaría Escrivá, 9 tháng 4 năm 1990.

[8] Lò Rèn, số 1014.

[9] Cuộc Trò Chuyện, số 116.

[10] Ghi chép cá nhân, số 618 (26 tháng 2 năm 1932).

[11] Sđd., số 619 (29 tháng 2 năm 1932).

[12] Hướng dẫn Công việc Nhóm Gabriel, số 22, ghi chú 28.

[13] Cụ thể là vào ngày 16 tháng 10 năm 1931. (X. Andres Vázquez de Prada, Đấng Sáng lập Opus Dei, tập I, trang 294). Nhiều năm sau, khi nhìn lại khoảnh khắc ấy, ngài viết: “Tôi đang chiêm niệm chân lý tuyệt vời đó, với ánh sáng không phải từ tôi. Nó như một cục than hồng đang cháy trong tâm hồn tôi, không bao giờ tắt” (Thư 15, số 41).

[14] Suy niệm ngày 2 tháng 11 năm 1958 (được trích dẫn trong Andres Vázquez de Prada, Đấng Sáng lập Opus Dei, tập III, trang 238).

[15] Xem ví dụ Ga 15,4 và tiếp theo (tt); 1 Ga 2,6 tt; 4,12 tt.

[16] Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Bài giảng, ngày 6 tháng 6 năm 2026.

[17] Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI, Buổi tiếp kiến, ngày 11 tháng 5 năm 2011.

[18] Bạn của Chúa, số 247.

[19] Bài giảng, ngày 26 tháng 6 năm 2025.

[20] Bạn của Chúa, số 296.

[21] Thư 6, số 15.

[22] Cuộc Trò Chuyện, số 114.

[23] Bạn của Chúa, số 239.

[24] Sđd., số 296 và 307.

[25] Sđd., số 252.

[26] Thánh Augustinô, Bài giảng về Thánh vịnh 85, 6.

[27] Bạn của Chúa, số 39.

[28] Thánh Têrêsa Avila, Con Đường Hoàn Thiện, chương 17, 2.

[29] Bạn của Chúa, số 127.

[30] Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 2697.

[31] Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, Magnifica Humanitas, số 146.

[32] Trò Chuyện với Chúa, số 79.

[33] Con Đường, số 130.

[34] Sđd., số 633.

[35] Đức Kitô Đi Qua, số 37.

[36] Sđd., số 9.

[37] Sđd., số 37.

[38] X. Sđd., số 166.

[39] Luống Cày, số 804.

[40] Lò Rèn, số 856.

[41] Đức Kitô Đi Qua, số 122.

[42] Thư Mục vụ, ngày 14 tháng 2 năm 2017, số 9.

[43] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Rosarium Virginis Mariae, số 11