Bài giảng: “Say mê Yêu mến Thế giới”

Bài giảng của Thánh Josemaría Escrivá tại Đại học Navarra (Tây Ban Nha), vào ngày 8 tháng 10 năm 1967.

Anh chị em vừa nghe tuyên đọc long trọng hai đoạn Sách Thánh của Thánh Lễ Chúa nhật thứ 21 sau Lễ Hiện Xuống. Những đoạn Lời Chúa này đặt anh chị em trong bầu khí của những điều tôi sắp chia sẻ với anh chị em đây; những lời siêu nhiên, nhằm loan báo sự vĩ đại của Thiên Chúa và lòng thương xót của Người đối với nhân loại; những lời chuẩn bị cho anh chị em bước vào mầu nhiệm vĩ đại của Bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành hôm nay trong khuôn viên Đại học Navarra này.

Hãy suy nghĩ một chút về điều tôi vừa nói. Chúng ta đang cử hành Bí tích Thánh Thể cực thánh, Hy tế mầu nhiệm của Mình và Máu Chúa chúng ta, Mầu nhiệm Đức Tin liên kết mọi mầu nhiệm của Kitô giáo. Vì thế, chúng ta đang cử hành hành vi thánh thiêng và siêu việt nhất mà con người, nhờ ân sủng Chúa, có thể thực hiện trong cuộc đời này. Rước Mình và Máu Chúa, theo một nghĩa nhất định, giống như chúng ta được tháo cởi xiềng xích của trần gian và thời gian, để hiện diện bên Chúa trên thiên đàng, nơi mà chính Đức Kitô sẽ lau khô mọi giọt lệ nơi mắt chúng ta, nơi sẽ không còn cái chết, tang tóc, than van thống khổ nữa, vì thế giới cũ đã qua đi (x. Kh 21,4).

Tuy nhiên, sự thật sâu sắc và đầy an ủi này – điều mà các nhà thần học gọi là ý nghĩa cánh chung của Thánh Thể – có thể bị hiểu sai. Và quả thật, sự thật ấy đã bị hiểu sai khi người ta cố gắng trình bày lối sống Kitô giáo như một thực tại hoàn toàn “siêu nhiên”, dành riêng cho những con người thuần khiết, phi thường, những con người không dính líu gì đến những thứ tầm thường của thế gian này, hoặc cùng lắm là phải chịu đựng chúng như một điều tất yếu bên cạnh tinh thần chừng nào họ còn sống trên trần gian này.

Nếu nhìn sự việc theo cách đó, nhà thờ sẽ trở thành không gian ưu tuyển của đời sống Kitô hữu. Là Kitô hữu chỉ còn có nghĩa là đến nhà thờ, tham dự các nghi lễ thiêng liêng, bận rộn với công việc giáo xứ, trong một thế giới biệt lập được xem như “phòng chờ” của thiên đàng, trong lúc thế giới đời thường đi theo con đường riêng của nó. Nếu như thế, giáo lý Kitô giáo và đời sống ân sủng sẽ lướt qua dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử nhân loại mà không bao giờ thực sự gặp được nó.

Vào buổi sáng tháng mười này, trong lúc chuẩn bị tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, chúng ta dứt khoát nói “không” với nhãn quan Kitô giáo méo mó ấy. Hãy suy tư một chút về khung cảnh nơi chúng ta đang cử hành Thánh Thể, hy tế tạ ơn này. Chúng ta đang ở trong một ngôi đền độc nhất vô nhị: có thể nói lòng nhà thờ chính là khuôn viên trường đại học; phông bàn thờ là thư viện nhà trường; còn đằng kia là máy móc xây dựng các tòa nhà mới; và trên cao là bầu trời Navarra… 

Khung cảnh này hẳn củng cố trong tâm trí anh chị em, một cách hữu hình và không thể nào quên, sự thật này: cuộc sống thường nhật chính là khung cảnh đích thực của đời sống Kitô hữu. Những tiếp xúc thường nhật của anh chị em với Thiên Chúa diễn ra ngay tại nơi có tha nhân, khát vọng, công việc và tình cảm của anh chị em. Chính nơi đó, anh chị em gặp gỡ Đức Kitô mỗi ngày. Chính giữa những thứ vật chất nhất của trái đất này mà chúng ta phải thánh hóa bản thân, để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại. 

Tôi không ngừng giảng dạy điều đó bằng cách sử dụng những lời Sách Thánh. Thế giới này không xấu, vì nó xuất phát từ bàn tay Thiên Chúa, vì nó là công trình sáng tạo của Người, vì “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (x. St 1,31). Chính chúng ta, con người, đã làm cho thế giới trở nên xấu xí và nhem nhuốc bởi tội lỗi và sự bất trung của mình. Không nghi ngờ gì: bất cứ hình thức trốn chạy các thực tại chân chính của đời sống thường nhật, đối với anh chị em, những con người của thế giới này, đều đi ngược thánh ý Thiên Chúa.

Trái lại, giờ đây, anh chị em nên hiểu rằng Thiên Chúa mời gọi anh chị em phụng sự Người trong và từ những hoạt động bình thường, vật chất và thế tục của đời sống nhân loại. Người chờ đợi chúng ta mỗi ngày trong phòng thí nghiệm, phòng phẫu thuật, doanh trại quân đội, giảng đường đại học, nơi nhà máy, trong xưởng thợ, trên đồng ruộng, tại gia đình và trong tất cả viễn cảnh bao la của lao động. Hãy hiểu rõ: có điều gì đó thánh thiện, điều gì đó thiêng liêng, đang ẩn giấu trong những tình huống bình thường nhất, và tùy mỗi người trong anh chị em khám phá ra điều đó. 

Tôi thường nói với các sinh viên và công nhân ở với tôi trong những năm ba mươi rằng họ phải biết cách “vật chất hóa” đời sống siêu nhiên của mình. Tôi muốn giúp họ tránh cơn cám dỗ – vốn phổ biến lúc đó cũng như bây giờ – là sống một cuộc đời hai mặt: một mặt là đời sống nội tâm, đời sống tương quan với Thiên Chúa, và mặt kia, hoàn toàn tách biệt, là đời sống nghề nghiệp, xã hội và gia đình, đầy những thực tại trần thế bé nhỏ.

Không, các con thân mến! Chúng ta không thể sống một cuộc đời hai mặt, chúng ta không thể như những kẻ “tâm thần phân liệt”, nếu muốn là Kitô hữu. Chỉ có một cuộc đời duy nhất, được làm nên bởi linh hồn và thân xác. Chính cuộc đời đó phải nên thánh thiện và tràn đầy Thiên Chúa, cả trong thể xác lẫn tâm hồn. Thiên Chúa vô hình, và chúng ta khám phá ra Người trong những thứ hữu hình và vật chất nhất. 

Không có con đường nào khác. Hoặc chúng ta học cách tìm kiếm Chúa trong đời sống thường nhật, hoặc không bao giờ chúng ta tìm thấy Người. Đó là lý do tại sao tôi có thể nói với anh chị em rằng thời đại chúng ta cần trả lại cho vật chất, các sự kiện và hoàn cảnh tầm thường nhất ý nghĩa cao quý và nguyên thủy của chúng; cần đưa chúng trở lại phụng sự Nước Thiên Chúa, cần siêu nhiên hóa chúng, biến chúng thành phương tiện và cơ hội để chúng ta liên tục gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. 

Kitô giáo chân chính, vốn tuyên xưng sự sống lại của thân xác loài người, dĩ nhiên luôn phản đối thuyết “phi vật chất”, mà không sợ bị đánh giá là duy vật. Do đó, chúng ta có thể nói đến một “thuyết duy vật Kitô giáo”, vốn hoàn toàn đối lập với thuyết duy vật bịt mắt trước tinh thần.

Các Bí tích – mà các Kitô hữu tiên khởi mô tả như những dấu ấn của Ngôi Lời Nhập Thể – là gì, nếu không phải là biểu hiện rõ ràng nhất của con đường mà Thiên Chúa đã chọn để thánh hóa và dẫn chúng ta về thiên đàng? Anh chị em không thấy rằng mỗi Bí tích là Tình Yêu của Thiên Chúa, với tất cả sức mạnh sáng tạo và cứu chuộc, được trao tặng cho chúng ta qua các phương tiện vật chất hay sao? Bí tích Thánh Thể mà chúng ta sắp cử hành đây là gì, nếu không là Mình và Máu cực thánh của Đấng Cứu Chuộc chúng ta, được trao tặng cho chúng ta qua những vật chất khiêm tốn của thế gian này (rượu và bánh), qua “những sản phẩm của thiên nhiên được bàn tay con người canh tác”, như Công đồng chung đã nhắc chúng ta (x. Gaudium et Spes, số 38).

Thật dễ hiểu khi vị Tông đồ viết: “Tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa” (1 Cr 3,22-23). Ở đây, chúng ta thấy có một chuyển động hướng lên mà Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong tâm hồn ta, muốn khơi dậy trong thế giới này, hướng từ đất thấp lên vinh quang Thiên Chúa. Và để làm rõ rằng chuyển động đó bao gồm mọi sự, ngay cả những điều tưởng chừng như bình dị nhất, Thánh Phaolô viết tiếp: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (x. 1 Cr 10,31).

Giáo lý này của Sách Thánh, như anh chị em biết, được tìm thấy ngay trong cốt lõi tinh thần Opus Dei. Giáo lý ấy hướng dẫn anh chị em chu toàn công việc của mình cách hoàn hảo nhất có thể, yêu mến Thiên Chúa và nhân loại bằng cách đặt tình yêu vào những việc nhỏ bé hằng ngày, và khám phá ra những điều thiêng liêng ẩn giấu trong những chi tiết nhỏ bé đó. Những vần thơ của một thi sĩ vùng Castilla thật thích hợp ở đây: “Thật chậm rãi, nắn nót từng nét chữ; viết đẹp vẫn hơn viết cho xong” (Machado, A., Poesías Completas, CLXI – Proverbios y cantares, XXIV, Espasa Calpe, Madrid, 1940).

Tôi cam đoan với anh chị em rằng khi một Kitô hữu thực hiện với tình yêu ngay cả những hành động thường ngày nhỏ nhặt nhất, những hành động đó sẽ tràn ngập sự siêu việt của Thiên Chúa. Đó là lý do tôi nhiều lần nói với anh chị em và không ngừng nhấn mạnh rằng ơn gọi Kitô hữu là biến những câu văn xuôi đời thường thành những vần thơ anh hùng ca. Các con thân mến, thiên đàng và mặt đất dường như hòa làm một nơi chân trời. Thế nhưng nơi chúng thực sự gặp nhau chính là trong trái tim các con, khi các con thánh hóa cuộc sống hằng ngày...

Tôi vừa nói: hãy thánh hóa cuộc sống thường nhật của anh chị em. Với những lời đó, tôi muốn đề cập đến toàn bộ chương trình hành động của anh chị em với tư cách là Kitô hữu. Xin ngừng mơ mộng. Hãy gạt bỏ chủ nghĩa lý tưởng hão huyền, những ảo tưởng, những thứ tôi thường gọi là “mơ ước viễn vông”: giá như tôi chưa kết hôn, giá như tôi không làm việc này, giá như tôi khỏe hơn, giá như tôi còn trẻ, giá như tôi già dặn hơn,... Thay vào đó, hãy nghiêm túc quay về với thực tại vật chất và trước mắt, là nơi Chúa đang hiện diện: “Nhìn chân tay Thầy coi,” Đức Giêsu phục sinh nói, “chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây” (Lc 24,39).

Những chân lý này soi sáng nhiều khía cạnh của thế giới mà anh chị em đang sống. Ví dụ, hãy nghĩ đến các hoạt động của anh chị em với tư cách là công dân trong đời sống xã hội. Nếu một người biết rằng thế giới này, chứ không chỉ riêng nhà thờ, là nơi mình gặp Đức Kitô, thì người ấy sẽ yêu thế giới, sẽ nỗ lực trau dồi tri thức và nghề nghiệp, để tự do hình thành những phán đoán của mình về các vấn đề của môi trường sống, và có thể đưa ra quyết định – những quyết định của người Kitô hữu là kết quả của suy tư cá nhân và khiêm tốn đón nhận Thánh Ý Thiên Chúa trong từng chi tiết lớn nhỏ của đời sống.

Tuy nhiên, một Kitô hữu như thế sẽ không bao giờ nghĩ hoặc nói rằng mình từ đền thờ bước vào thế giới để đại diện cho Giáo Hội, hoặc các giải pháp của mình là “giải pháp Công giáo”. Điều đó không thể chấp nhận! Đó sẽ là chủ nghĩa giáo sĩ, là “Công giáo chính thống”, hay bất cứ tên gọi nào mà anh chị em muốn đặt cho nó. Trong mọi trường hợp, làm như vậy là trái với bản chất tự nhiên của sự việc. Anh chị em cần lan tỏa khắp nơi một “tư duy giáo dân” đích thực, điều dẫn đến ba kết luận sau đây: đủ chính trực để gánh vác trách nhiệm cá nhân; đủ tinh thần Kitô hữu để tôn trọng những anh chị em cùng đức tin, là những người, trong các vấn đề tự do quan điểm, có thể đề xuất các giải pháp khác với giải pháp ta theo đuổi; đủ tinh thần Công giáo để không lợi dụng Mẹ Giáo Hội, không lôi kéo Giáo Hội vào các phe phái trần thế.

Rõ ràng là trong lĩnh vực này cũng như mọi lĩnh vực khác, anh chị em sẽ không thể hoàn thành chương trình thánh hóa cuộc sống thường nhật nếu không được hưởng tất cả tự do xuất phát từ phẩm giá của những con người được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa và là điều Giáo Hội hằng công nhận. Tự do cá nhân là điều thiết yếu trong đời sống Kitô hữu. Nhưng xin đừng quên, các con thân mến, tôi luôn nói đến sự tự do có trách nhiệm.

Vì thế, hãy hiểu đúng lời tôi, lời mời gọi anh chị em thực thi các quyền của mình mỗi ngày, chứ không chỉ trong tình huống khẩn cấp. Đó là lời mời gọi anh chị em chu toàn cách danh dự những cam kết công dân trong mọi lĩnh vực – chính trị, tài chính, học thuật, công việc – qua việc can đảm chấp nhận mọi hệ quả từ các quyết định tự do của mình, và chịu trách nhiệm về các hành động độc lập của bản thân. Một “nhãn quan Kitô hữu giáo dân” như thế sẽ giúp anh chị em tránh xa mọi thái độ bất khoan dung và cuồng tín, và nói một cách tích cực, sẽ giúp anh chị em sống hòa hợp với mọi người, thúc đẩy sự thấu hiểu và hài hòa trong mọi lãnh vực xã hội.

Tôi biết không cần nhắc lại những điều tôi thường nói trong nhiều năm qua. Học thuyết về tự do dân sự, thấu hiểu và chung sống hòa hợp là một phần rất thiết yếu trong thông điệp của Opus Dei. Liệu tôi có cần khẳng định lần nữa rằng những người nam và người nữ muốn phụng sự Chúa Giêsu Kitô trong Opus Dei đơn giản là những công dân như bao người khác, những con người đang nỗ lực sống ơn gọi Kitô hữu đến cùng với ý thức nghiêm túc về trách nhiệm?

Không có gì khác biệt giữa các con của tôi với đồng bào của họ. Tuy nhiên, ngoài Đức Tin, họ không có điểm chung nào với các thành viên của các dòng tu. Tôi yêu mến các tu sĩ, kính trọng và ngưỡng mộ việc tông đồ của các ngài, đời sống tu viện, sự tách biệt khỏi thế gian – contemptus mundi, vốn là những dấu chỉ khác của sự thánh thiện trong Giáo Hội. Nhưng Chúa không ban cho tôi ơn gọi tu sĩ, và nếu tôi ao ước điều đó thì quả là một lệch lạc. Không quyền lực nào trên trần gian có thể buộc tôi trở thành tu sĩ, cũng như không thẩm quyền nào có thể bắt tôi kết hôn. Tôi là một linh mục triều, một linh mục của Đức Giêsu Kitô, người hết lòng yêu mến thế gian.

Đây là những người đã cùng tôi, một tội nhân khốn khổ, bước theo Đức Kitô: Một số ít các linh mục, những người đã có một công việc hoặc nghề nghiệp ngoài đời trước khi được thụ phong. Một số lớn các linh mục triều từ nhiều giáo phận trên khắp thế giới; những người đã củng cố lòng vâng phục đối với giám mục giáo phận mình, cũng như tình yêu mến và tính hiệu quả dành cho công việc giáo phận; với đôi tay dang rộng theo hình Thánh Giá để mọi linh hồn tìm thấy chỗ trú ẩn nơi trái tim mình, các ngài, cũng như tôi, sống giữa những nhộn nhịp của thế giới thường nhật mà mình hằng yêu mến. Sau cùng, đại đa số là những người nam nữ thuộc nhiều quốc gia, ngôn ngữ, chủng tộc; họ mưu sinh bằng nghề nghiệp của mình; hầu hết sống đời hôn nhân; cũng có nhiều người độc thân; họ làm việc và chia sẻ với đồng bào mình nhiệm vụ quan trọng là làm cho xã hội trần thế trở nên nhân văn và công bằng hơn. Họ làm việc – tôi xin lặp lại – với trách nhiệm cá nhân, kề vai sát cánh cùng tha nhân, nếm trải thành công lẫn thất bại trong cuộc chiến đấu cao quý của nỗ lực mỗi ngày, cố gắng chu toàn bổn phận và thực thi các quyền xã hội và dân sự. Tất cả những điều ấy diễn ra cách tự nhiên, như bất kỳ người Kitô hữu tận tâm nào, không hề xem bản thân đặc biệt, nhưng hòa mình với bao đồng nghiệp, cố gắng nhận ra những tia sáng thần linh đang rực rỡ chiếu sáng những thực tại đời thường bình dị nhất.

Tương tự như vậy, những hoạt động được Opus Dei, với tư cách là một tổ chức, khuyến khích cũng mang các đặc tính trần thế rõ rệt ấy. Chúng không phải là những hoạt động của Giáo Hội. Chúng không đại diện cho phẩm trật Giáo Hội dưới bất kỳ hình thức nào. Chúng là hoa trái của các sáng kiến nhân văn, văn hóa và xã hội, được thực hiện bởi những công dân đang nỗ lực soi chiếu chúng bằng ánh sáng Tin Mừng và sưởi ấm chúng bằng Tình yêu Đức Kitô. Một ví dụ giúp sáng tỏ điều này là Opus Dei không và sẽ không bao giờ đảm nhận sứ mệnh điều hành các chủng viện giáo phận, nơi các giám mục được “Chúa Thánh Thần đặt làm mục tử” (Cv 20,28) chuẩn bị cho các linh mục tương lai của mình.

Mặt khác, Opus Dei cổ võ các trung tâm đào tạo kỹ thuật cho công nhân, các trường đào tạo nông nghiệp cho nông dân, các trung tâm giáo dục tiểu học, trung học và đại học, cùng nhiều hoạt động đa dạng khác trên khắp thế giới, vì lòng nhiệt thành tông đồ của Opus Dei, như tôi đã viết nhiều năm trước, như một đại dương vô bờ.

Liệu tôi có cần dài dòng về đề tài này không, khi sự hiện diện của anh chị em ở đây đã hùng hồn hơn bất kỳ bài diễn văn nào? Anh chị em, những Bạn hữu của Đại học Navarra, là một phần của cộng đồng những người biết rằng mình có trách nhiệm đối với sự tiến bộ của xã hội mà mình thuộc về. Sự khích lệ chân thành, những lời cầu nguyện, hy sinh và đóng góp của anh chị em không được trao tặng dựa trên các tuyên bố Công giáo. Sự cộng tác của anh chị em là minh chứng rõ ràng cho ý thức công dân tốt lành, biết quan tâm đến lợi ích trần thế chung. Anh chị em đã cho thấy rằng một trường đại học có thể được sinh ra từ năng lực của người dân và được duy trì bởi chính người dân.

Nhân dịp này, một lần nữa, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến thành phố Pamplona và vùng Navarra vì sự cộng tác dành cho trường đại học của chúng ta, đến những Bạn hữu từ khắp đất nước Tây Ban Nha, cũng như – tôi muốn nói điều này với lòng tri ân đặc biệt – đến những người không phải là người Tây Ban Nha, thậm chí không phải là người Công giáo và Kitô hữu, những người đã hiểu mục đích và tinh thần của công trình này và đã chứng minh điều đó bằng hành động.

Nhờ tất cả anh chị em, trường đại học này đã trở thành một trung tâm, đang lớn lên từng ngày, của tự do dân sự, phát triển tri thức, thăng tiến nghề nghiệp, và chất xúc tác cho nền giáo dục đại học. Những hy sinh quảng đại của anh chị em là nền tảng của công trình toàn cầu này, một công trình hướng tới sự phát triển tri thức nhân văn, phúc lợi xã hội và giáo dục đức tin.

Những điều tôi vừa đề cập được người dân Navarra hiểu rõ; họ cũng nhận thấy đại học này là một nhân tố của phát triển kinh tế và đặc biệt của tiến bộ xã hội cho khu vực, một nhân tố đã trao cho rất nhiều con em họ cơ hội tiếp cận các ngành nghề trí thức mà nếu không có nhà trường, điều đó sẽ thật khó khăn và bất khả thi trong một số trường hợp. Hiểu về vai trò của đại học đối với cuộc sống hẳn đã thúc đẩy sự ủng hộ của người dân Navarra dành cho nhà trường ngay từ đầu; một sự ủng hộ chắc chắn ngày càng gia tăng về lòng nhiệt thành lẫn quy mô.

Tôi vẫn nuôi hy vọng – điều này vốn phù hợp với tiêu chí công bằng và thực tế ở nhiều quốc gia – rằng sẽ đến lúc chính phủ Tây Ban Nha sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng cho công trình vốn không nhằm tìm kiếm lợi nhuận riêng tư này, nhưng ngược lại, đang hoàn toàn tận tâm phục vụ xã hội và nỗ lực hoạt động hiệu quả vì sự thịnh vượng hiện tại và tương lai của đất nước.

Giờ đây, các con thân mến, hãy để tôi đề cập đến một khía cạnh khác của cuộc sống thường nhật mà tôi đặc biệt trân quý. Tôi muốn nói đến tình yêu nhân loại, tình yêu cao quý giữa người nam và người nữ, nói đến việc hẹn hò và hôn nhân. Tôi muốn lặp lại lần nữa rằng tình yêu nhân loại thánh thiện này không phải là điều gì đó được cho phép hay được dung thứ bên cạnh các hoạt động tinh thần, như suy luận của chủ nghĩa duy linh sai lầm mà chúng ta vừa đề cập. Tôi đã rao giảng điều ngược lại, bằng lời nói và văn bản, từ bốn mươi năm qua, và giờ đây những người trước kia không hiểu cũng bắt đầu nắm được điều đó.

Tình yêu dẫn đến hôn nhân và gia đình cũng có thể là một con đường thiêng liêng tuyệt diệu, một ơn gọi, một nẻo đường để hoàn toàn tận hiến cho Chúa. Những gì tôi đã chia sẻ với anh chị em: làm mọi việc một cách hoàn hảo, đặt tình yêu vào các bổn phận nhỏ bé hằng ngày, khám phá ra “điều gì đó thánh thiêng” ẩn giấu trong từng chi tiết; tất cả giáo lý này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong không gian sống động của tình yêu nhân loại.

Các giáo sư, sinh viên và tất cả những ai cống hiến hết mình cho Đại học Navarra, đều biết rằng tôi đã phó dâng tình yêu của anh chị em cho Đức Maria, Mẹ của Tình Yêu Tinh Tuyền. Ngay trong khuôn viên đại học này, anh chị em có một đền thánh mà chúng ta đã xây dựng với lòng kính yêu, là nơi anh chị em cầu nguyện với Mẹ và hiến dâng tình yêu thanh khiết tuyệt vời lên để Mẹ chúc lành.

“Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là quà tặng Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em không còn thuộc về mình nữa” (1 Cr 6,19). Đã bao lần đứng trước tượng Đức Trinh Nữ, Mẹ của Tình Yêu Tinh Tuyền, anh chị em trả lời câu hỏi của Thánh Tông đồ bằng lời khẳng định vui tươi: Vâng, chúng con biết và chúng con muốn sống điều đó, nhờ sự trợ giúp quyền năng của Mẹ, ôi Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa!

Lời cầu nguyện chiêm niệm sẽ trào dâng mỗi khi anh chị em suy ngẫm về thực tại ấn tượng này: một thứ rất vật chất như thân xác tôi lại được Chúa Thánh Thần chọn làm nơi Người cư ngụ... Tôi không còn thuộc về mình nữa... Thân xác và linh hồn tôi, toàn bộ con người tôi, thuộc về Thiên Chúa... Và lời cầu nguyện ấy sẽ mang lại kết quả thực tế phong phú, rút ra từ hệ quả lớn lao mà chính Thánh Tông đồ đã đề xuất: “Hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6,20).

Mặt khác, anh chị em không thể phủ nhận rằng chỉ những ai hiểu và trân trọng sâu sắc điều mà chúng ta vừa xem xét về tình yêu nhân loại, mới có thể đạt được sự thấu hiểu khôn tả về một điều khác mà Chúa Giêsu đã nói đến (x. Mt 19,11): đó là món quà thuần khiết đến từ Thiên Chúa, thúc đẩy con người dâng hiến cả hồn lẫn xác cho Người, trao dâng cho Người một trái tim trọn vẹn, không qua trung gian tình yêu trần thế.

Tôi phải kết thúc bài giảng ở đây. Lúc đầu, tôi đã nói là tôi muốn loan báo cho anh chị em về sự vĩ đại và lòng thương xót của Thiên Chúa. Tôi nghĩ mình đã làm điều đó khi chia sẻ với anh chị em về việc thánh hóa cuộc sống thường nhật. Một đời sống thánh thiện giữa những thực tại của thế giới này – một đời sống lặng lẽ, giản dị và chân thành – chẳng phải là biểu hiện cảm động nhất của magnalia Dei (Hc 18,5), của lòng thương xót vô biên mà Thiên Chúa luôn luôn và không ngừng thực thi để cứu rỗi thế giới hay sao?

Giờ đây, tôi mời anh chị em cùng với tác giả Thánh Vịnh hiệp thông trong lời cầu nguyện và ngợi khen: Magnificate Dominum mecum, et extollamus nomen eius simul: “Hãy cùng tôi ngợi khen Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người” (Tv 34,4). Nói cách khác, anh chị em thân mến, chúng ta hãy sống Đức Tin.

Chúng ta hãy cầm lấy Khiên thuẫn Đức Tin, đội Mũ chiến Ơn Cứu Độ và cầm Thanh gươm của Thần Khí, tức là Lời Thiên Chúa, như Thánh Phaolô khuyến khích chúng ta trong Thư gửi tín hữu Êphêsô (6,11-17) vừa được công bố trong Phụng vụ ít phút trước đây.

Đức Tin là nhân đức mà Kitô hữu chúng ta rất cần, đặc biệt trong “Năm Đức Tin” này mà Đức Thánh Cha Phaolô VI kính yêu của chúng ta đã ban bố. Vì nếu không có Đức Tin, chúng ta mất đi chính nền tảng của việc thánh hóa đời sống thường nhật.

Một Đức Tin sống động trong những giây phút này, khi chúng ta đang tiến đến Mysterium FideiMầu nhiệm Đức tin (1 Tm 3,9), tiến đến Thánh Thể cực thánh, khi chúng ta sắp được tham dự Lễ Vượt Qua của Chúa chúng ta, là nơi tóm kết và hoàn thành lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Đức Tin, các con thân mến, để nhận biết rằng chỉ trong ít phút nữa đây, trên bàn thờ này, “Công cuộc Cứu chuộc của chúng ta” sẽ được tái hiện. Đức Tin, để cảm nếm Kinh Tin Kính và cảm nghiệm, trên bàn thờ và trong cộng đoàn này, sự hiện diện của Đức Kitô, Đấng làm cho chúng ta nên một lòng một ý (cor unum et anima una), nên một gia đình, một Giáo Hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo, Tông truyền và Rôma, cũng có nghĩa là phổ quát đối với chúng ta.

Cuối cùng, Đức Tin, hỡi các con yêu dấu, để chứng tỏ cho thế giới thấy rằng đây không chỉ là những nghi lễ và lời nói, nhưng là một thực tại thần linh, bằng cách trình bày cho nhân loại chứng tá của một đời sống thường nhật được thánh hóa, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần và Thánh Maria.